19 QUYỀN CƠ BẢN - 19 YẾU TỐ CẤU THÀNH NỀN DÂN CHỦ BỀN VỮNG Ở ĐỨC


Tác giả bản dịch: Nguyễn Minh Tuấn
Nguồn bản gốc Tiếng Đức: tại Website chính thức của
Bundeszentrale für politische Bildung (BPB), truy cập tại đây


Nội dung và cơ chế đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản là linh hồn của bất kỳ một bản Hiến pháp nào. 
19 Điều đầu tiên của Luật cơ bản năm 1949 là 19 qui định về quyền cơ bản và cũng chính là 19 viên đá tảng gắn kết tạo dựng nên nền dân chủ bền vững ở Đức. 
Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của những điều luật, tác giả xin trân trọng công bố và giới thiệu đến bạn đọc bản dịch tham khảo Tiếng Việt từ nguyên bản Tiếng Đức 19 quyền cơ bản trong Luật cơ bản (Grundgesetz) của CHLB Đức này.  
Bản dịch Tiếng Việt dưới đây cũng như những bản dịch khác đã giới thiệu trên trang blog cá nhân này chỉ mang tính chất tham khảo. Tác giả bản dịch hoàn toàn không chịu trách nhiệm pháp lý về bất cứ sự trùng lặp, sao chép hay suy luận nào khác đáng tiếc liên quan đến bản dịch này có thể xảy ra. Tác giả bản dịch rất mong nhận được các ý kiến đóng góp thiện chí của bạn đọc gửi về địa chỉ email nguyenminhtuan_hn@yahoo.com để hoàn thiện bản dịch này và các bản dịch văn bản pháp luật khác. (NMT)
 
I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN (I. GRUNDRECHTE)

Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 1 
[Menschenwürde; 
Grundrechtsbindung der staatlichen Gewalt]
(1) Die Würde des Menschen ist unantastbar. Sie zu achten und zu schützen istVerpflichtung aller staatlichen Gewalt.
(2) Das Deutsche Volk bekennt sich darum zu unverletzlichen undunveräußerlichen Menschenrechten als Grundlage jeder menschlichen Gemeinschaft,des Friedens und der Gerechtigkeit in der Welt.
(3) Die nachfolgenden Grundrechte binden Gesetzgebung, vollziehende Gewalt undRechtsprechung als unmittelbar geltendes Recht.



Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 1
Bảo vệ nhân phẩm; 
Sự ràng buộc của quyền lực nhà nước 
bởi các quyền cơ bản
(1) Nhân phẩm là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ  nhân phẩm là nghĩa vụ của tất cả các nhánhquyền lực nhà nước.
(2) Nhân dân Đức vì thế thừa nhận việc nhân quyền (Menschenrechte) là bất khảxâm phạm và không thể bị lạm dụng như là nền tảng của cộng đồng, hoà bình vàcông lý trên toàn thế giới.
(3) Các quyền hạn cơ bản dưới đây ràng buộc trực tiếp cáccơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 2
[Allgemeine Handlungsfreiheit; 
Recht auf Leben; Körperliche Unversehrtheit, 
Freiheitder Person]
(1) Jeder hat das Recht auf die freie Entfaltung seiner Persönlichkeit, soweiter nicht die Rechte anderer verletzt und nicht gegen die verfassungsmäßigeOrdnung oder das Sittengesetz verstößt.
(2) Jeder hat das Recht auf Leben und körperliche Unversehrtheit. Die Freiheitder Person ist unverletzlich. In diese Rechte darf nur auf Grund eines Gesetzeseingegriffen werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 2
Quyền tự do hành động, 
quyền sống, quyền bất khả xâm phạm thân thể,
quyền tự do cá nhân.
(1). Mọi người đều có quyền  phát triển tính cách riêng của mình trong phạmvi mà người đó không xâm phạm đến quyền tự do của những người khác, không vi phạmtrật tự hợp hiến hay luân lý đạo đức.
(2) Mọi người đều có quyền sống và bất khả xâm phạm vềthân thể. Quyền tự do của con người là bất khả xâm phạm. Chỉ có dựa trên cơ sởcủa một đạo luật (Gesetz) mới có thể can thiệp (Eingriff) vào những quyền này.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 3
[Gleichheit vor dem Gesetz; 
Gleichberechtigung von Männern und Frauen; 
Diskriminierungsverbote]
(1) Alle Menschen sind vor dem Gesetz gleich.
(2) Männer und Frauen sind gleichberechtigt. Der Staat fördert die tatsächlicheDurchsezung der Gleichberechtigung von Frauen und Männern und wirkt auf dieBeseitigung bestehender Nachteile hin.
(3) Niemand darf wegen seines Geschlechtes, seiner Abstammung, seiner Rasse,seiner Sprache, seiner Heimat und Herkunft, seines Glaubens, seiner religiösenoder politischen Anschauungen benachteiligt oder bevorzugt werden.
Niemanddarf wegen seiner Behinderung benachteiligt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 3
Bình đẳng trước pháp luật; 
bình quyền giữa nam và nữ; 
cấm phân biệt đối xử
(1) Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
(2) Nam, nữ là bình quyền. Nhà nước thúc đẩy việc thựcthi quyền bình đẳng nam nữ và từng bước loại bỏ những hạn chế hiện còn đang tồntại.
(3) Không ai bị thiên vị hoặc bị phân biệt đối xử vìgiới tính, dòng dõi, chủng tộc, ngôn ngữ, quê quán và nguồn gốc, tôn giáo, tínngưỡng hoặc các quan điểm chính trị. Không ai bị phân biệt đối xử vì tàn tật.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 4
[Glaubens-, Gewissens- 
und Bekenntnisfreiheit]
(1) Die Freiheit des Glaubens, des Gewissens und die Freiheit des religiösenund weltanschaulichen Bekenntnisses sind unverletzlich.
(2) Die ungestörte Religionsausübung wird gewährleistet.
(3) Niemand darf gegen sein Gewissen zum Kriegsdienst mit der Waffe gezwungenwerden. Das Nähere regelt ein Bundesgesetz.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 4
Tự do tôn giáo, 
tự do nhận thức vàtự do tín ngưỡng
(1) Tự do về tín ngưỡng, nhận thức và tự do theo mộttôn giáo hoặc tự do theo một  thế giới quan nào đó là bất khả xâm phạm.
(2) Hoạt động tôn giáo một cách ôn hòa được bảo vệ.
(3) Không ai bị ép buộc cầm vũ khí phục vụ chiếntranh. Các điều khoản chi tiết do một đạo luật của liên bang qui định.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 5
[Meinungs-, Informations-, 
Pressefreiheit; Kunst und Wissenschaft]
(1) Jeder hat das Recht, seine Meinung in Wort, Schrift und Bild frei zu äußernund zu verbreiten und sich aus allgemein zugänglichen Quellen ungehindert zuunterrichten. Die Pressefreiheit und die Freiheit der Berichterstattung durchRundfunk und Film werden gewährleistet. Eine Zensur findet nicht statt.
(2) Diese Rechte finden ihre Schranken in den Vorschriften der allgemeinenGesetze, den gesetzlichen Bestimmungen zum Schutze der Jugend und in dem Rechtder persönlichen Ehre.
(3) Kunst und Wissenschaft, Forschung und Lehre sind frei. Die Freiheit derLehre entbindet nicht von der Treue zur Verfassung.


Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 5
Tự do ngôn luận, 
tự do thông tin, tự do báo chí; 
tự do nghệ thuật và tự do khoa học
(1) Mọi công dân đều có quyền tự do thể hiện suy nghĩ của mình bằng lời nói,chữ viết, hình ảnh, mở rộng và phổ biến nó qua các phương tiện chung không bị hạnchế. Tự do báo chí và tự do thông tin qua truyền thanh và phim ảnh được bảo đảm.Không có bất cứ sự kiểm duyệt nào.
(2) Những quyền này bị giới hạn trong những qui định củanhững đạo luật chung, trong các điều khoản luật bảo vệ thanh niên, và quyền tôntrọng danh dự cá nhân.
(3) Nghệ thuật và khoa học, nghiên cứu và giảng dạy đều được tự do. Tự do giảng dạy phải trung thành với Hiến pháp.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 6
[Ehe und Familie; 
nichteheliche Kinder]
(1) Ehe und Familie stehen unter dem besonderen Schutze der staatlichenOrdnung.
(2) Pflege und Erziehung der Kinder sind das natürliche Recht der Eltern unddie zuvörderst ihnen obliegende Pflicht. Über ihre Betätigung wacht diestaatliche Gemeinschaft.
(3) Gegen den Willen der Erziehungsberechtigten dürfen Kinder nur auf Grundeines Gesetzes von der Familie getrennt werden, wenn die Erziehungsberechtigtenversagen oder wenn die Kinder aus anderen Gründen zu verwahrlosen drohen.
(4) Jede Mutter hat Anspruch auf den Schutz und die Fürsorge der Gemeinschaft.
(5) Den unehelichen Kindern sind durch die Gesetzgebung die gleichenBedingungen für ihre leibliche und seelische Entwicklung und ihre Stellung inder Gesellschaft zu schaffen wie den ehelichen Kindern.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 6
Hôn nhân và gia đình; 
con ngoài giá thú
(1) Hôn nhân và gia đình được hưởng sự bảo vệ đặc biệtcủa nhà nước.
(2) Việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em là quyền tựnhiên của cha mẹ và là trách nhiệm ràng buộc của cha mẹ. Nhà nước giám sát chamẹ trong việc thực hiện trách nhiệm này.
(3) Trẻ em được tách khỏi gia đình mà không theo nguyệnvọng của cha mẹ hoặc người bảo hộ của chúng chỉ dựa trên cơ sở của một đạo luật,hoặc khi cha mẹ hay người giám hộ không thực hiện trách nhiệm của họ hoặc khi trẻem bị ngược đãi.
(4) Mọi bà mẹ đều có quyền yêu cầu sự chăm sóc và bảovệ của cộng đồng.
(5) Cơ quan lập pháp sẽ qui định để đảm bảo việc conngoài giá thú cũng giống như con trong giá thú đều được nhận những cơ hội để pháttriển thể chất và tinh thần và có vị trí xã hội.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 7
[Schulwesen]
(1) Das gesamte Schulwesen steht unter der Aufsicht des Staates.
(2) Die Erziehungsberechtigten haben das Recht, über die Teilnahme des Kindesam Religionsunterricht zu bestimmen.
(3) Der Religionsunterricht ist in den öffentlichen Schulen mit Ausnahme derbekenntnisfreien Schulen ordentliches Lehrfach. Unbeschadet des staatlichenAufsichtsrechtes wird der Religionsunterricht in Übereinstimmung mit den Grundsätzender Religionsgemeinschaften erteilt. Kein Lehrer darf gegen seinen Willenverpflichtet werden, Religionsunterricht zu erteilen.
(4) Das Recht zur Errichtung von privaten Schulen wird gewährleistet. PrivateSchulen als Ersatz für öffentliche Schulen bedürfen der Genehmigung des Staatesund unterstehen den Landesgesetzen. Die Genehmigung ist zu erteilen, wenn dieprivaten Schulen in ihren Lehrzielen und Einrichtungen sowie in derwissenschaftlichen Ausbildung ihrer Lehrkräfte nicht hinter den öffentlichenSchulen zurückstehen und eine Sonderung der Schüler nach denBesitzverhältnissen der Eltern nicht gefördert wird. Die Genehmigung ist zuversagen, wenn die wirtschaftliche und rechtliche Stellung der Lehrkräfte nichtgenügend gesichert ist.
(5) Eine private Volksschule ist nur zuzulassen, wenn die Unterrichtsverwaltungein besonderes pädagogisches Interesse anerkennt oder, auf Antrag vonErziehungsberechtigten, wenn sie als Gemeinschaftsschule, als Bekenntnis- oderWeltanschauungsschule errichtet werden soll und eine öffentliche Volksschuledieser Art in der Gemeinde nicht besteht.
(6) Vorschulen bleiben aufgehoben.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 7
Hệ thống giáo dục
(1) Toàn bộ hệ thống giáo dục đều chịu sự giám sát củanhà nước.
(2) Cha mẹ hoặc người giám hộ có quyền quyết định con họcó tham dự các bài giảng tôn giáo hay không.
(3) Các bài giảng tôn giáo là một phần trong chươngtrình học của các trường công lập, trừ các trường học không liên quan đến tôngiáo. Kiến thức tôn giáo được trang bị phù hợp với những nguyên lý của cộng đồngtôn giáo có liên quan, không định kiến hay mâu thuẫn với việc giám sát của nhànước. Giáo viên không bị ép buộc phải giảng dạy các kiến thức tôn giáo.
(4) Quyền xây dựng các trường tư thục được bảo vệ. Cáctrường tư thục ra đời thay thế các trường công lập phải được phép của Nhà nướcvà chịu sự qui định bởi luật của bang.  Nhànước sẽ cho phép thành lập các trường tư thục trong trường hợp trường tư thụckhông thua kém các trường công lập về mục tiêu giáo dục, cơ sở vật chất hoặc độingũ giáo viên được đào tạo chuyên nghiệp và học sinh không bị phân biệt đối xửtheo nguồn gốc của bố mẹ. Giấy phép hoạt động sẽ bị thu hồi nếu vị trí kinh tếvà pháp lý của đội ngũ giáo viên không được bảo đảm đầy đủ.
(5) Một trường tư thục được chấp thuận chỉ khi cơ quanquản lý giáo dục thấy được trường đó phục vụ lợi ích sư phạm đặc biệt hoặc theođề nghị của phụ huynh, khi trường đầy đủ điều kiện như trường công hoặcđược xây dựng dựa trên một triết lý riêng và khi không tồn tại trường công lập nàonhư vậy trong khu vực đó.
(6) Các trường dự bị bị xoá bỏ.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 8
[Versammlungsfreiheit]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, sich ohne Anmeldung oder Erlaubnisfriedlich und ohne Waffen zu versammeln.
(2) Für Versammlungen unter freiem Himmel kann dieses Recht durch Gesetz oderauf Grund eines Gesetzes beschränkt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 8
Quyền tự do biểu tình
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền biểu tình một cáchhoà bình và không sử dụng vũ khí mà không phụ thuộc vào việc cấp phép của nhànước.
(2) Trong trường hợp biểu tình ngoài trời thì quyềnnày có thể bị giới hạn bởi đạo luật cụ thể hoặc trên căn cứ của một đạo luật.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 9
[Vereinigungsfreiheit, 
Verbot von Maßnahmen gegen Arbeitskämpfe]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, Vereine und Gesellschaften zu bilden.
(2) Vereinigungen, deren Zwecke oder deren Tätigkeit den Strafgesetzenzuwiderlaufen oder die sich gegen die verfassungsmäßige Ordnung oder gegen denGedanken der Völkerverständigung richten, sind verboten.
(3) Das Recht, zur Wahrung und Förderung der Arbeits- undWirtschaftsbedingungen Vereinigungen zu bilden, ist für jedermann und für alleBerufe gewährleistet. Abreden, die dieses Recht einschränken oder zu behindernsuchen, sind nichtig, hierauf gerichtete Maßnahmen sind rechtswidrig. Maßnahmennach den Artikeln 12a, 35 Abs. 2 und 3, Artikel 87a Abs. 4 und Artikel 91dürfen sich nicht gegen Arbeitskämpfe richten, die zur Wahrung und Förderungder Arbeits- und Wirtschaftsbedingungen von Vereinigungen im Sinne des Satzes 1geführt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 9
Tự do lập hội, 
nghiêm cấm các biện pháp chống lại việc đình công
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền thành lập hội và cáctổ chức xã hội khác.
(2) Những hiệp hội, mà mục đích hoặc hoạt động vi phạmluật hình sự hoặc trực tiếp trái với trật tự hợp hiến hoặc làm tổn hại đến sự đoànkết dân tộc đều bị cấm.
(3) Quyền lập hội để bảo đảm và hỗ trợ các điều kiệnlàm việc và kinh tế được đảm bảo cho mọi cá nhân và mọi nghề nghiệp. Các thoả ướccó hạn chế hoặc làm giảm đi hiệu lực của quyền này đều bị tuyên vô hiệu và cácbiện pháp áp dụng bị tuyên là trái luật. Các biện pháp được thực hiện theo điều12a, các khoản 2 và 3 của điều 35, khoản 4 điều 87a, và điều 91 không đượcáp dụng nhằm chống  lại các cuộc đìnhcông để đảm bảo và cải thiện các điều kiện làm việc và kinh tế  của các hiệp hội trong nội dung của Câu 1 khoảnnày.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 10
[Brief-, Post- und Fernmeldegeheimnis]
(1) Das Briefgeheimnis sowie das Post- und Fernmeldegeheimnis sindunverletzlich.
(2) Beschränkungen dürfen nur auf Grund eines Gesetzes angeordnet werden. Dientdie Beschränkung dem Schutze der freiheitlichen demokratischen Grundordnungoder des Bestandes oder der Sicherung des Bundes oder eines Landes, so kann dasGesetz bestimmen, daß sie dem Betroffenen nicht mitgeteilt wird und daß an dieStelle des Rechtsweges die Nachprüfung durch von der Volksvertretung bestellteOrgane und Hilfsorgane tritt.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 10
Bí mật thư tín, điện tín và viễn thông
(1) Quyền bí mật riêng tư về thư từ cũng như điệntín, viễn thông (Fernmeldegeheimnis) là bất khả xâm phạm.
(2) Các giới hạn của quyền này chỉ trên cơ sở của mộtđạo luật. Nếu trong trường hợp đặc biệt, việc hạn chế nhằm bảo đảm trật tự tự dodân chủ cơ bản hoặc bảo vệ chứng cứ hoặc bảo vệ sự an toàn của liên bang hay củamột tiểu bang, thì một đạo luật riêng có thể quy định việc can thiệp của nhà nước mà người có quyền lợi liênquan sẽ không được thông báo trước và sau đó chứng cứ sẽ được chuyển đến Tòa án để xem xét và được giải quyết thông quacon đường tố tụng, có sự giám sát của cơ quan dân cử và tổ chức hỗ trợ khác.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 11
[Freizügigkeit]
(1) Alle Deutschen genießen Freizügigkeit im ganzen Bundesgebiet.
(2) Dieses Recht darf nur durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes und nurfür die Fälle eingeschränkt werden, in denen eine ausreichende Lebensgrundlagenicht vorhanden ist und der Allgemeinheit daraus besondere Lasten entstehenwürden oder in denen es zur Abwehr einer drohenden Gefahr für den Bestand oderdie freiheitliche demokratische Grundordnung des Bundes oder eines Landes, zurBekämpfung von Seuchengefahr, Naturkatastrophen oder besonders schwerenUnglücksfällen, zum Schutze der Jugend vor Verwahrlosung oder um strafbarenHandlungen vorzubeugen, erforderlich ist.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 11
Quyền tự do đi lại
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền tự do đi lại trêntoàn lãnh thổ liên bang.
(2) Quyền này bị hạn chế bởi một đạo luật hoặc trên cơsở một đạo luật tương ứng trong các trường hợp như khi điều kiện sống gặp nguycấp, không quyết định ngay sẽ dẫn đến một gánh nặng đặc biệt cho cộng đồng, hoặc trong các trường hợp cần thiết đểngăn chặn tai họa sắp xảy ra đối với cộng đồng hoặc xâm phạm trật tự tự do dânchủ cơ bản của liên bang hoặc của một tiểu bang, hoặc để chống lại nguy cơ dịchbệnh, đối phó với tai nạn nghiêm trọng hoặc thảm hoạ tự nhiên, để bảo vệ thanh thiếuniên khỏi kỳ thị hoặc để ngăn chặn những hành vi phạm tội.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 12
[Berufsfreiheit; 
Verbot derZwangsarbeit]
(1) Alle Deutschen haben das Recht, Beruf, Arbeitsplatz und Ausbildungsstättefrei zu wählen. Die Berufsausübung kann durch Gesetz oder auf Grund einesGesetzes geregelt werden.
(2) Niemand darf zu einer bestimmten Arbeit gezwungen werden, außer im Rahmeneiner herkömmlichen allgemeinen, für alle gleichen öffentlichenDienstleistungspflicht.
(3) Zwangsarbeit ist nur bei einer gerichtlich angeordneten Freiheitsentziehungzulässig.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 12
Quyền tự do nghề nghiệp; 
cấm lao động cưỡng bức
(1) Mọi công dân Đức đều có quyền tự do lựa chọn ngànhnghề, nơi làm việc và nơi đào tạo. Việc hành nghề sẽ căn cứ vào một đạo luậtriêng hoặc trên cơ sở một đạo luật riêng.
(2) Không ai bị ép buộc thực hiện một loại công việc cụthể, trừ khi việc thực hiện lao động công ích là nghĩa vụ bình đẳng cho tất cảmọi người.
(3) Chỉ những người bị tước quyền tự do theo phán quyết củaToà án mới có thể bị lao động bắt buộc.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 12a
[Wehr- und Dienstpflicht]
(1) Männer können vom vollendeten achtzehnten Lebensjahr an zum Dienst in denStreitkräften, im Bundesgrenzschutz oder in einem Zivilschutzverbandverpflichtet werden.
(2) Wer aus Gewissensgründen den Kriegsdienst mit der Waffe verweigert, kann zueinem Ersatzdienst verpflichtet werden. Die Dauer des Ersatzdienstes darf dieDauer des Wehrdienstes nicht übersteigen. Das Nähere regelt ein Gesetz, das dieFreiheit der Gewissensentscheidung nicht beeinträchtigen darf und auch eineMöglichkeit des Ersatzdienstes vorsehen muß, die in keinem Zusammenhang mit denVerbänden der Streitkräfte und des Bundesgrenzschutzes steht.
(3) Wehrpflichtige, die nicht zu einem Dienst nach Absatz 1 oder 2 herangezogensind, können im Verteidigungsfalle durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzeszu zivilen Dienstleistungen für Zwecke der Verteidigung einschließlich desSchutzes der Zivilbevölkerung in Arbeitsverhältnisse verpflichtet werden;Verpflichtungen in öffentlich-rechtliche Dienstverhältnisse sind nur zurWahrnehmung polizeilicher Aufgaben oder solcher hoheitlichen Aufgaben deröffentlichen Verwaltung, die nur in einem öffentlich-rechtlichenDienstverhältnis erfüllt werden können, zulässig. Arbeitsverhältnisse nach Satz1 können bei den Streitkräften, im Bereich ihrer Versorgung sowie bei deröffentlichen Verwaltung begründet werden; Verpflichtungen inArbeitsverhältnisse im Bereiche der Versorgung der Zivilbevölkerung sind nurzulässig, um ihren lebensnotwendigen Bedarf zu decken oder ihren Schutzsicherzustellen.
(4) Kann im Verteidigungsfalle der Bedarf an zivilen Dienstleistungen imzivilen Sanitäts- und Heilwesen sowie in der ortsfesten militärischenLazarettorganisation nicht auf freiwilliger Grundlage gedeckt werden, so könnenFrauen vom vollendeten achtzehnten bis zum vollendeten fünfundfünfzigsten Lebensjahrdurch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes zu derartigen Dienstleistungenherangezogen werden. Sie dürfen auf keinen Fall zum Dienst mit der Waffeverpflichtet werden.
(5) Für die Zeit vor dem Verteidigungsfalle können Verpflichtungen nach Absatz3 nur nach Maßgabe des Artikels 80a Abs. 1 begründet werden. Zur Vorbereitungauf Dienstleistungen nach Absatz 3, für die besondere Kenntnisse oderFertigkeiten erforderlich sind, kann durch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzesdie Teilnahme an Ausbildungsveranstaltungen zur Pflicht gemacht werden. Satz 1findet insoweit keine Anwendung.
(6) Kann im Verteidigungsfalle der Bedarf an Arbeitskräften für die in Absatz 3Satz 2 genannten Bereiche auf freiwilliger Grundlage nicht gedeckt werden, sokann zur Sicherung dieses Bedarfs die Freiheit der Deutschen, die Ausübungeines Berufs oder den Arbeitsplatz aufzugeben, durch Gesetz oder auf Grundeines Gesetzes eingeschränkt werden. Vor Eintritt des Verteidigungsfalles giltAbsatz 5 Satz 1 entsprechend.


Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 12a
Nghĩa vụ quân sự 
và các nghĩa vụ công ích khác
(1) Nam giới đủ 18 tuổi có thể được yêu cầu phục vụtrong Lực lượng vũ trang, trong lực lượng cảnh sát liên bang, hoặc trong một tổchức dân quân tự vệ.
(2) Bất cứ ai vì lý do nhận thức cá nhân mà từ chối thựchiện nghĩa vụ quân sự liên quan đến việc dùng vũ khí thì sẽ phải thực hiệnnghĩa vụ lao động công ích. Khoảng thời gian thực hiện nghĩa vụ lao động côngích không vượt quá thời gian thực hịên nghĩa vụ quân sự. Các qui định chi tiếtđược quy định trong một đạo luật riêng, đạo luật này sẽ không xâm phạm đến quyềntự do quyết định theo lương tâm và quy định rõ khả năng thực hiện nghĩa vụ laođộng công ích thay thế nghĩa vụ quân sự không liên quan tới các đơn vị thuộc Lựclượng vũ trang hoặc Cảnh sát liên bang.
(3) Những người đến tuổi  tham gia nghĩa vụ quân sự mà không bị kêu gọiphục vụ nghĩa vụ theo Khoản 1 hay khoản 2 của điều này có thể được phân công làm việcliên quan đến dân quân tự vệ theo pháp luật vì các mục đích quốc phòngkhi tình trạng quốc phòng đang có hiệu lực; họ được phân công làm việc cho nhànước chỉ vì mục đích thực hiện các chức năng cảnh sát hoặc các chức năng tốicao khác trong việc quản lý nhà nước có thể được thực hiện bởi những người làmviệc cho nhà nước. Công việc được nói đến trong Câu đầu của khoản này bao gồmcác nghĩa vụ trong Lực lượng vũ trang, trong điều khoản về cung cấp quân sự, hoặccác cơ quan quản lý nhà nước; những nhiệm vụ đối với công việc liên quan đếncung cấp và phục vụ nhân dân cho phép đáp ứng các yêu cầu cơ bản  hoặc đểđảm bảo sự an toàn của họ.
(4) Trong tình trạng quốc phòng nếu có nhu cầu cần các dân quân tự vệ trong hệ thống sức khoẻ nhân dân hoặc trong các bệnh việnquân sự tại chỗ không thể được đáp ứng trên cơ sở tự nguyện, thì phụ nữ ở độ tuổitừ 18 đến 55 được kêu gọi phục vụ các nghĩa vụ ấy căn cứ theo pháp luật. Trongbất kỳ trường hợp nào thì họ cũng không làm công việc liên quan đến sử dụng vũkhí.
(5) Trước khi tồn tại tình trạng quốc phòng, các nhiệmvụ theo Khoản 3 của điều này được đưa ra chỉ nếu các yêu cầu Khoản 1 Điều 80ađược đáp ứng. Để chuẩn bị cho điều khoản về các nghĩa vụ theo Khoản 3 điềunày yêu cầu kiến thức đặc  biệt hoặc  các kỹ năng, thì việc tham gia vào các khoáđào  tạo được yêu cầu theo pháp luật.Trong trường hợp này điểm đầu tiên của khoản này không được áp dụng.
(6) Nếu như quốc phòng có nhu cầu về côngnhân trong các phạm vi được quy định tại Câu 2 khoản 3 điều này không đượcđáp ứng trên cơ sở tự nguyện, thì quyền từ bỏ nghề hoặc thay thế công việc củamọi công dân Đức bị giới hạn theo pháp luật để đáp ứng nhu cầu này. Trước khi gia nhập quân ngũ nhằm bảo vệ lợi ích quốc phòng thì áp dụng Khoản 5 Câu 1 của điều này.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 13 
[Unverletzlichkeit der Wohnung]
(1) Die Wohnung ist unverletzlich.
(2) Durchsuchungen dürfen nur durch den Richter, bei Gefahr im Verzuge auchdurch die in den Gesetzen vorgesehenen anderen Organe angeordnet und nur in derdort vorgeschriebenen Form durchgeführt werden.
(3) Begründen bestimmte Tatsachen den Verdacht, daß jemand eine durch Gesetzeinzeln bestimmte besonders schwere Straftat begangen hat, so dürfen zurVerfolgung der Tat auf Grund richterlicher Anordnung technische Mittel zurakustischen Überwachung von Wohnungen, in denen der Beschuldigte sichvermutlich aufhält, eingesetzt werden, wenn die Erforschung des Sachverhaltsauf andere Weise unverhältnismäßig erschwert oder aussichtslos wäre. DieMaßnahme ist zu befristen. Die Anordnung erfolgt durch einen mit drei Richternbesetzten Spruchkörper. Bei Gefahr im Verzuge kann sie auch durch eineneinzelnen Richter getroffen werden.
(4) Zur Abwehr dringender Gefahren für die öffentliche Sicherheit, insbesondereeiner gemeinen Gefahr oder einer Lebensgefahr, dürfen technische Mittel zurÜberwachung von Wohnungen nur auf Grund richterlicher Anordnung eingesetztwerden. Bei Gefahr im Verzuge kann die Maßnahme auch durch eine anderegesetzlich bestimmte Stelle angeordnet werden; eine richterliche Entscheidungist unverzüglich nachzuholen.
(5) Sind technische Mittel ausschließlich zum Schutze der bei einem Einsatz inWohnungen tätigen Personen vorgesehen, kann die Maßnahme durch eine gesetzlichbestimmte Stelle angeordnet werden. Eine anderweitige Verwertung der hierbeierlangten Erkenntnisse ist nur zum Zwecke der Strafverfolgung oder derGefahrenabwehr und nur zulässig, wenn zuvor die Rechtmäßigkeit der Maßnahmerichterlich festgestellt ist; bei Gefahr im Verzuge ist die richterlicheEntscheidung unverzüglich nachzuholen.
(6) Die Bundesregierung unterrichtet den Bundestag jährlich über den nachAbsatz 3 sowie über den im Zuständigkeitsbereich des Bundes nach Absatz 4 und,soweit richterlich überprüfungsbedürftig, nach Absatz 5 erfolgten Einsatztechnischer Mittel. Ein vom Bundestag gewähltes Gremium übt auf der Grundlagedieses Berichts die parlamentarische Kontrolle aus. Die Länder gewährleisteneine gleichwertige parlamentarische Kontrolle.
(7) Eingriffe und Beschränkungen dürfen im übrigen nur zur Abwehr einergemeinen Gefahr oder einer Lebensgefahr für einzelne Personen, auf Grund einesGesetzes auch zur Verhütung dringender Gefahren für die öffentliche Sicherheitund Ordnung, insbesondere zur Behebung der Raumnot, zur Bekämpfung vonSeuchengefahr oder zum Schutze gefährdeter Jugendlicher vorgenommen werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 13
Bất khả xâm phạm về chỗ ở
(1) Chỗ ở là bất khả xâm phạm.
(2) Việc khám xét chỗ ở chỉ được thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán hoặctrong trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn bởi các cơ quan khác được pháp luật quy định và theo các  hình thức luật định nghiêm ngặt.
(3) Nếu có những cơ sở thực tế xác đáng từ sự nghi ngờ rằng ai đó phạm một tội đặc biệt nghiêm trọng cụ thể theo luật định, thì được phép áp dụng các biệnpháp nghiệp vụ về khám xét chỗ ở, căn cứtheo lệnh của toà án. Các biện pháp này chỉ có thời hạnnhất định. Quyết định khám xét được Tòa án thông qua bởi một Hội đồng gồm ba thẩm phán có hội thẩm tham gia.Trong trường hợp khẩn cấp không thể trì hoãn, lệnh có thể được ban hành bởi một thẩm phán.
(4) Để ngăn chặn các nguy hiểm nghiêm trọng đến trật tự công, đặc biệt là cácnguy hiểm đối với cuộc sống hoặc đối với dân chúng, thì các biện pháp nghiệp vụ kĩ thuật khám xét nhà ở có thể được thực hiện chỉ trên cơ sở lệnh toà án. Trong trường hợp nguy hiểm không thể trì hoãn, các biện pháp như vậy được ra lệnh bởi một cơ quan quyền lực kháctheo luật định; Quyết định của toà án sẽ được thực thi ngay không trì hoãn.
(5) Nếu các biện pháp nghiệp vụ được cân nhắc để bảovệ con người được triển khai chính thức ở một chỗ ở nào đó, thì các biện pháp này chỉ được thực thi tại những địa điểm mà luật cho phép. Do đó, thông tin thu được chỉ đượcsử dụng cho các mục đích truy tố tội phạm hay ngăn chặn sự nguy hiểm, và các biện pháp này phải được luật cho phép;trong thời điểm quan trọng khẩn cấp thì quyết định của toà án được thi hành ngay không trì hoãn.
(6) Chính phủ liên bang báo cáo Hạ viện liên banghàng năm về việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo khoản (3) cũng như về thẩm quyền xét xử của liên bang theo khoản 4 và trong phạm vi mà yêu cầu sự đồng ý củatoà án theo khoản (5) điều này. Một hội đồng do Hạ viện bầu ra trên cơ sở báo cáo này sẽ thực thi quyền giám sát của Nghị viện. Các tiểu bang cũng bảo vệ quyền giám sát Nghị viện tương ứng của mình.
(7) Những can thiệp và hạn chế khác chỉ được phép áp dụng đểngăn chặn tổn  hại đến cộng  đồng và cuộc sống của mỗi cá nhân, hoặc căn cứ theo một đạo luật để loại trừ tác hạinghiêm trọng đến trật tự và an toàn chung, đặc biệt là để làm giảm thiểu tình trạng thiếu nhà ở, chống  lại nguy cơ dịchbệnh hoặc để bảo vệ những thanh thiếu niên.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 14
[Eigentum, 
Erbrecht, Enteignung]
(1) Das Eigentum und das Erbrecht werden gewährleistet. Inhalt und Schrankenwerden durch die Gesetze bestimmt.
(2) Eigentum verpflichtet. Sein Gebrauch soll zugleich dem Wohle derAllgemeinheit dienen.
(3) Eine Enteignung ist nur zum Wohle der Allgemeinheit zulässig. Sie darf nurdurch Gesetz oder auf Grund eines Gesetzes erfolgen, das Art und Ausmaß derEntschädigung regelt. Die Entschädigung ist unter gerechter Abwägung derInteressen der Allgemeinheit und der Beteiligten zu bestimmen. Wegen der Höheder Entschädigung steht im Streitfalle der Rechtsweg vor den ordentlichenGerichten offen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 14
Quyền tài sản, 
quyền thừa kế, việc sung công
(1) Quyền tài sản và quyền thừa kế tài sản được bảo vệ. Nộidung và các giới hạn của quyền này được quy định rõ trong một đạo luật cụ thể.
(2) Tài sản cá nhân có thể được dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Việc sử dụng tài sản cá nhân cũng nên đồng thời phụcvụ cho lợi ích chung của cộng đồng.
(3) Tịch thu tài sản sung công chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích chung. Cách thức bồi hoàn sẽ do một đạo luật riêng hoặc trên cơ sở của đạo luật riêng qui định. Việc bồi thường được thực hiện trên cơ sở cân nhắc lợi ích chung và lợi ích của các bên liên quan. Trong trường hợp có tranh chấp về mức tiền bồithường thì có thể cầu viện đến các toà án thường để giải quyết.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 15  
[Sozialisierung]
Grund und Boden, Naturschätze und Produktionsmittel können zum Zwecke derVergesellschaftung durch ein Gesetz, das Art und Ausmaß der Entschädigungregelt, in Gemeineigentum oder in andere Formen der Gemeinwirtschaft überführtwerden. Für die Entschädigung gilt Artikel 14 Absatz 3 Satz 3 und 4entsprechend.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 15
Vấn đề xã hội hoá
Thông qua một đạo luật cụ thể, đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sảnxuất có thể được qui định vì mục đích xã hội hóa, đạo luật này sẽ qui định cách thức bồi hoàn, dựa trên cơ sở tính toán nguồn công quĩ hoặc các hình thức, công cụ khác của kinh tế công. Điều 14 Khoản 3 Câu 3 và câu 4 sẽ được áp dụng tương ứng cho việc bồi thường.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 16 
[Verbot der Ausbürgerung, 
Auslieferung]
(1) Die deutsche Staatsangehörigkeit darf nicht entzogen werden. Der Verlustder Staatsangehörigkeit darf nur auf Grund eines Gesetzes und gegen den Willendes Betroffenen nur dann eintreten, wenn der Betroffene dadurch nichtstaatenlos wird.
(2) Kein Deutscher darf an das Ausland ausgeliefert werden. Durch Gesetz kanneine abweichende Regelung für Auslieferungen an einen Mitgliedstaat derEuropäischen Union oder an einen internationalen Gerichtshof getroffen werden,soweit rechtsstaatliche Grundsätze gewahrt sind.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 16
Cấm tước quyền có quốc tịch; 
việc dẫn độ
(1) Quốc tịch Đức không được phép bị tước bỏ. Mất quốc tịch chỉ cóthể trên cơ sở một đạo luật cụ thể và khi người liên quan tự nguyện từ bỏ và người đó đã có một quốc tịch khác.
(2) Không một công dân Đức nào bị dẫn độ ra nướcngoài. Ngoại lệ dẫn độ sang nước thành viên trong Cộng đồng châu Âu hay đến mộtTòa án quốc tế có thể được thực hiện theo một đạo luật cụ thể, nếu như đạo luậtđó phù hợp với các nguyên tắc nhà nước pháp quyền.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 16a
[Asylrecht]
(1) Politisch Verfolgte genießen Asylrecht.
(2) Auf Absatz 1 kann sich nicht berufen, wer aus einem Mitgliedstaat derEuropäischen Gemeinschaften oder aus einem anderen Drittstaat einreist, in demdie Anwendung des Abkommens über die Rechtsstellung der Flüchtlinge und derKonvention zum Schutze der Menschenrechte und Grundfreiheiten sichergestelltist. Die Staaten außerhalb der Europäischen Gemeinschaften, auf die dieVoraussetzungen des Satzes 1 zutreffen, werden durch Gesetz, das der Zustimmungdes Bundesrates bedarf, bestimmt. In den Fällen des Satzes 1 könnenaufenthaltsbeendende Maßnahmen unabhängig von einem hiergegen eingelegten Rechtsbehelfvollzogen werden.
(3) Durch Gesetz, das der Zustimmung des Bundesrates bedarf, können Staatenbestimmt werden, bei denen auf Grund der Rechtslage, der Rechtsanwendung undder allgemeinen politischen Verhältnisse gewährleistet erscheint, daß dort wederpolitische Verfolgung noch unmenschliche oder erniedrigende Bestrafung oderBehandlung stattfindet. Es wird vermutet, daß ein Ausländer aus einem solchenStaat nicht verfolgt wird, solange er nicht Tatsachen vorträgt, die die Annahmebegründen, daß er entgegen dieser Vermutung politisch verfolgt wird.
(4) Die Vollziehung aufenthaltsbeendender Maßnahmen wird in den Fällen desAbsatzes 3 und in anderen Fällen, die offensichtlich unbegründet sind oder alsoffensichtlich unbegründet gelten, durch das Gericht nur ausgesetzt, wennernstliche Zweifel an der Rechtmäßigkeit der Maßnahme bestehen; derPrüfungsumfang kann eingeschränkt werden und verspätetes Vorbringenunberücksichtigt bleiben. Das Nähere ist durch Gesetz zu bestimmen.
(5) Die Absätze 1 bis 4 stehen völkerrechtlichen Verträgen von Mitgliedstaatender Europäischen Gemeinschaften untereinander und mit dritten Staaten nichtentgegen, die unter Beachtung der Verpflichtungen aus dem Abkommen über dieRechtsstellung der Flüchtlinge und der Konvention zum Schutze derMenschenrechte und Grundfreiheiten, deren Anwendung in den Vertragsstaatensichergestellt sein muß, Zuständigkeitsregelungen für die Prüfung vonAsylbegehren einschließlich der gegenseitigen Anerkennung vonAsylentscheidungen treffen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 16a
Quyền tỵ nạn
(1) Những người bị ngược đãi về chính trị đều có quyềntỵ nạn.
(2) Khoản 1điều này không được viện  dẫn  áp dụng đối với người vào lãnh thổ liên bang từ mộtnước thành viên Cộng đồng Châu Âu hoặc từ nước thứ ba khác mà việc áp dụng hiệpđịnh liên quan đến tình trạng tỵ nạn và hiệp định về bảo vệ nhân quyền và cácquyền tự do cơ bản được bảo đảm. Các nước ngoài khối Cộng đồng Châu Âu theotiêu chí áp dụng  của Câu 1 khoản này đượcđịnh rõ bởi một đạo luật riêng, đạo luật đó cần phải có sự đồng ý phê chuẩn của Thượng nghị viện (Bundesrat). Trong các trườnghợp được quy định tại Câu 1 khoản này thì các biện pháp trục xuất người  tỵ nạn có thể được áp dụng bất cứ khi nào,không phụ thuộc vào bất cứ sự phản đối pháp lý nào.
(3) Một đạo luật cụ thể, trên cơ sở có sự đồng thuận của Thượng viện, có thể liệt kê các nhà nước, mà ở đó dựa trên hệ thống pháp luật, áp dụng pháp luật không có tình trạng khủng bố chính trị hoặc đối xử vô nhân đạo hay đối xử tàn ác. Có thể giả định rằng, một người nước ngoài từ một  nướcnhư vậy không bị ngược đãi theo dõi về chính trị, nếu người đó không có chứng cứ chứngminh cho kết luận người đó bị ngược đãi vì lý do chính trị.
(4) Việc áp dụng biện pháp trục xuất có hiệu lực đối với các trường hợp của khoản 3 và các trường hợp mà không thể có được bằng chứng xác thực thì việc thực hiệncác biện pháp để chấm dứt thời hạn ở lại của một người tỵ nạn có thể bị đình chỉbởi toà án chỉ khi có các nghi ngờ nghiêm trọng về tính hợp pháp; phạm vi xemxét có thể được giới hạn và những phản hồi chậm sẽ không được xem xét đến. Luậtquy định các điều khoản chi tiết.
(5) Các Khoản từ 1 đến 4 của điều này không ngăn cản các hiệp định quốc tế của các nước thành viên trong khối  Cộng  đồngChâu Âu với nhau hoặc  với các nước thứba để ý tới những nghĩa vụ phát sinh từ Hiệp định về tình trạng tỵ nạn và Hiệpđịnh về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản mà việc thi hành các hiệp địnhđó phải được đảm bảo trong các nước có ký kết thông qua các quy tắc thẩm quyền thực thi pháp luật để xem xét các đơn đăng ký tỵ nạn bao gồm việc côngnhận giữa các bên về các quyết định tỵ nạn.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 17
[Petitionsrecht]
Jedermann hat das Recht, sich einzeln oder in Gemeinschaft mit anderenschriftlich mit Bitten oder Beschwerden an die zuständigen Stellen und an dieVolksvertretung zu wenden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 17
Quyền kiến nghị
Mọi người đều có quyền tự mình hoặc cùng với những ngườikhác gửi các đề nghị cá nhân hoặc các đơn khiếu nại tới các cơ quan có thẩmquyền liên quan và đến cơ quan dân cử.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 17a 
[Grundrechtsbeschränkungen im Wehrbereich]
(1) Gesetze über Wehrdienst und Ersatzdienst können bestimmen, daß für dieAngehörigen der Streitkräfte und des Ersatzdienstes während der Zeit des Wehr-oder Ersatzdienstes das Grundrecht, seine Meinung in Wort, Schrift und Bildfrei zu äußern und zu verbreiten (Artikel 5 Absatz 1 Satz 1 erster Halbsatz),das Grundrecht der Versammlungsfreiheit (Artikel 8) und das Petitionsrecht(Artikel 17), soweit es das Recht gewährt, Bitten oder Beschwerden inGemeinschaft mit anderen vorzubringen, eingeschränkt werden.
(2) Gesetze, die der Verteidigung einschließlich des Schutzes derZivilbevölkerung dienen, können bestimmen, daß die Grundrechte derFreizügigkeit (Artikel 11) und der Unverletzlichkeit der Wohnung (Artikel 13)eingeschränkt werden.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 17a
Giới hạn 
về các quyền cơ bản cụ thể
trong lĩnh vực an ninh
(1) Các đạo luật về nghĩa vụ quân sự và lao động côngích có thể quy định các giới hạn cụ thể quyền cơ bản của những người tham gia lực lượng vũ trang và lao động công ích trong thời gian phục vụ, như quyền được tự do ngôn luận thể hiện bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh (Điều 5 khoản1 câu 1), quyền biểu tình (Điều 8), và quyền kiến nghị (Điều 17) trong phạm vimà quyền này cho phép có thể đệ trình các kiến nghị tập thể.
(2) Các đạo luật, mà phục vụ lợi ích quốc phòng nhằm mục đích bảo vệ nhân dân, có thểquy định giới hạn các quyền cơ bản như quyền tự do đi lại (Điều 11) và bất khảxâm phạm nơi ở (Điều 13).
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch): 
Artikel 18
[Verwirkung 
von Grundrechten]
Wer die Freiheit der Meinungsäußerung, insbesondere die Pressefreiheit (Artikel5 Absatz 1), die Lehrfreiheit (Artikel 5 Absatz 3), die Versammlungsfreiheit(Artikel 8), die Vereinigungsfreiheit (Artikel 9), das Brief-, Post- und Fernmeldegeheimnis(Artikel 10), das Eigentum (Artikel 14) oder das Asylrecht (Artikel 16a) zumKampfe gegen die freiheitliche demokratische Grundordnung mißbraucht, verwirktdiese Grundrechte. Die Verwirkung und ihr Ausmaß werden durch dasBundesverfassungsgericht ausgesprochen.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 18
Tước các quyền cơ bản
Bất cứ ai lạm dụng quyền tự do ngôn luận, đặc biệt làtự do báo chí (Điều 5 khoản 1), tự do giảng dạy (Điều 5 khoản 3), tự do biểutình (Điều 8), tự do lập hội (Điều 9), quyền bí mật về thư tín, điện tín, viễnthông (Điều 10), quyền về tài sản (Điều 14) hoặc quyền tỵ nạn (Điều 16a) để chốnglại trật tự tự do dân chủ cơ bản, người đó sẽ bị tước những quyền cơ bản này.Việc tước quyền và phạm vi tước quyền sẽ được tuyên bởi Toà án Hiến pháp liênbang.
----------------------------------------------------------


Nguyên bản Tiếng Đức (Deutsch):
Artikel 19 
[Einschränkung von Grundrechten]
(1) Soweit nach diesem Grundgesetz ein Grundrecht durch Gesetz oder auf Grundeines Gesetzes eingeschränkt werden kann, muß das Gesetz allgemein und nichtnur für den Einzelfall gelten. Außerdem muß das Gesetz das Grundrecht unterAngabe des Artikels nennen.
(2) In keinem Falle darf ein Grundrecht in seinem Wesensgehalt angetastetwerden.
(3) Die Grundrechte gelten auch für inländische juristische Personen, soweitsie ihrem Wesen nach auf diese anwendbar sind.
(4) Wird jemand durch die öffentliche Gewalt in seinen Rechten verletzt, sosteht ihm der Rechtsweg offen. Soweit eine andere Zuständigkeit nicht begründetist, ist der ordentliche Rechtsweg gegeben.
Artikel 10 Abs. 2 Satz 2 bleibtunberührt.
Tiếng Việt (Vietnamesisch):
Điều 19
Giới hạn các quyền cơ bản
(1) Nếu một quyền cơ bản nào trong Luật cơ bản này bịgiới hạn bởi một đạo luật hoặc trên cơ sở một đạo luật nào cụ thể, thì đạo luật đó phải được áp dụng chung và không là ngoại lệdành riêng cho một trường hợp cá biệt nào. Ngoài ra, đạo luật đó phải trích dẫn rõ quyền cơbản với đầy đủ thông tin về điều khoản của Luật cơ bản này.
(2)  Trong mọitrường hợp một quyền cơ bản không được tự mâu thuẫn với chính nội dung bản chấtcủa quyền đó.
(3) Các quyền cơ bản cũng áp dụng cho những pháp nhân trongnước, trong phạm vi các quyền đó về bản chất cho phép được áp dụng.
(4) Bất cứ ai cho rằng quyền cơ bản của mình bị xâm phạmbởi công quyền, thì người đó có thể khởi kiện bằng con đường Toà án. Nếu khôngcó cơ quan xét xử nào phù hợp về mặt thẩm quyền, thì Toà án thường sẽ có thẩmquyền giải quyết. Điều 10 Khoản 2 Câu 2 không bị ảnh hưởng bởi khoản này.

05:32 | Posted in , , | Read More »

MỘT SỐ TƯ LIỆU LỊCH SỬ, PHÁP LÝ VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Nguồn: Tamnhin.net, đăng ngày 14/10/2011, truy cập tại đây

Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo ở ngoài khơi Việt Nam: quần đảo Hoàng Sa chỗ gần nhất cách đảo Ré, một đảo ven bờ của Việt Nam, khoảng 120 hải lý; cách Đà Nẵng khoảng 120 hải lý về phía Đông; quần đảo Trường Sa chỗ gần nhất cách Vịnh Cam Ranh khoảng 250 hải lý về phía Đông.

Nhận thức của các nhà hàng hải thời xưa về Hoàng Sa và Trường Sa lúc đầu mơ hồ; họ chỉ biết có một khu vực rộng lớn rất nguy hiểm cho tàu thuyền vì có những bãi đá ngầm. Ngày xưa người Việt Nam gọi là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa như các sách và bản đồ cổ của Việt Nam đã chứng tỏ. Hầu như tất cả các bản đồ của các nhà hàng hải phương Tây từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đều vẽ chung quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa làm một dưới cái tên Pracel, Parcel hay Paracels.1


Về sau, với những tiến bộ của khoa học và hàng hải, người ta đã phân biệt có hai quần đảo: quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Mãi cho đến năm 1787 - 1788, cách đây hai trăm năm, đoàn khảo sát Kergariou-Locmaria mới xác định được rõ ràng và chính xác vị trí của quần đảo Hoàng Sa (Paracel) như hiện nay, từ đó phân biệt quần đảo này với quần đảo Trường Sa ở phía Nam.

Các bản đồ trên nói chung đều xác định vị trí khu vực Pracel (tức là cả Hoàng Sa và Trường Sa) là ở giữa Biển Đông, phía đông Việt Nam, bên ngoài những đảo ven bờ của Việt Nam. Hai quần đảo mà các bản đồ hàng hải quốc tế ngày nay ghi là Paracels và Spratley hoặc Spratly chính là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam.



Bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI

Chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình.

Nhiều sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam ghi chép rõ Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam.

Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: "giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng", "Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa mười tám chiếc thuyền đến lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn".

Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư

Trong Giáp Ngọ bình nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776, viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi.



Phủ biên tạp lục

"Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có núi gọi là Cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm,6 có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hoá vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải".

“... Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh.

Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi, nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều.

Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem số của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”.

Trong số tư liệu còn tìm thấy ngày nay, có thể kể tờ sai sau đây đề năm 1786 của quan Thượng tướng công:

"Sai cai Hội Đức Hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác,7 đồi mồi, hải ba cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo
lệ".

Giám mục J.L.Taberd, trong bài "Ghi chép về địa lý nước Cochinchine" xuất bản năm 1837, cũng mô tả "Pracel hay Paracels" là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là "Cát Vàng". Trong An Nam đại quốc hoạ đồ xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi "Paracel hay Cát Vàng" (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay.


An Nam đại quốc hoạ đồ
Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam đời Nguyễn vẽ vào khoảng năm 1838, ghi "Hoàng Sa" (số 1) - "Vạn lý Trường Sa" (số 2) thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Đại Nam nhất thống toàn đồ

Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc Sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882 ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam thuộc tỉnh Quảng Ngãi.




Đại Nam nhất thống chí

Đoạn nói về hình thể tỉnh Quảng Ngãi, cuốn sách viết:

“Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi, có đảo cát (tức đảo Hoàng Sa liền cát với biển làm hào; phía tây nam miền sơn man, có luỹ dài vững vàng, phía nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn...”

“... Đầu đời vua Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam còn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ “Vạn lý Ba Bình” (muôn dặm sóng yên). Cồn cát này xưa gọi là Phật Tự Sơn, phía đông và phía tây đảo đều có đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm Minh Mệnh thứ 16 sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được đồng lá và gang sắt có đến hơn 2.000 cân”.

Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Một giáo sĩ Phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam.

J.B. Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine:

“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh… một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành…".

Trong bài Địa lý vương quốc Cochinchina của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là "Cát Vàng".

Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hành và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó.

Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII):

“Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, ... có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó”.

"Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn".

Đại Nam thực lục tiền biên, bộ sử về chúa Nguyễn do Quốc sứ quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1844, có đoạn viết:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích v.v…”.

"Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản".

Theo Đại Nam thực lục chính biên, là bộ sử ký do Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn soạn, viết về các đời vua nhà Nguyễn. Phần viết về các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị được soạn xong năm 1848, ghi sự kiện Gia Long chiếm hữu các đảo Hoàng Sa năm 1816, sự kiện Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này .

Quyển 52:

“Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816)...

Vua phái Thuỷ quân và đội Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ”.

Quyển 104:

“Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)...

Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.

Quyển 154:

“Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)... dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ “Vạn Lý Ba Bình”20. Cồn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua toan dụng miếu, lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về”.

Quyển 165:

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1...

Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thể hiểm trở, binh dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy, trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình”.

“Vua y lời tâu, phái Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ “Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”).

   
   

Đại Nam thực lục chính biên

Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã
phê: "Đình".

Tờ tâu của Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị năm 1847

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882):

“Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hoá vật của các tầu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở đấy".

Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự.

Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử và địa lý cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó.

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa.

Nghĩa là thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc thai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.

Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786- 1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).

Như vậy qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt Nam.

Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Khi trở lại Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu năm 1947 Pháp đã yêu cầu quân Trung hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép cuối năm 1946 và Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.

Trạm khí tượng Itu Aba ở đảo Ba Bình, quần đảo Trường Sa (Văn kiện của tổ chức khí tượng thế giới (OMM) năm 1949

Ngày 7-9-1951, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hoà ước với Nhật Bản rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam: “… và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.

Lời tuyên bố của Đoàn đại biểu Việt Nam tại Hội nghị San Francisco (1951).
(Đăng trong tạp chí France-A’e số 66-67 Novembre-Décembre, 1951)


Tuyên bố đó không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị.

Năm 1953, tàu Ingénieur en chef Girod của Pháp khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương, địa chất, địa lý, môi sinh.

Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Dưới đây là một vài bằng chứng:

Năm 1956, lực lượng hải quân của Chính quyền Sài Gòn tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân về nước.

Năm 1956, Sở Hầm mỏ, kỹ nghệ và tiểu công nghiệp miền Nam tổ chức một cuộc khảo sát với sự giúp đỡ của hải quân của Chính quyền Sài Gòn trên 4 đảo: Hoàng Sa (Pattle), Quang Ảnh (Money), Hữu Nhật (Robert), Duy Mộng (Drumond).

Ngày 22-10-1956, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 13-7-1961, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.


Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm

Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa như: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, v v...

Bia chủ quyền Việt Nam dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa
(1961)

Hải quân Việt Nam trên đảo Song Tử Tây
(thuộc quần đảo Trường Sa)

Ngày 21-10-1969, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải vào xã Hoà Long cũng thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.

Tháng 7-1973, Viện Khảo cứu nông nghiệp thuộc Bộ Phát triển nông nghiệp và điền địa Sài Gòn tiến hành khảo sát đảo Nam Ai (Nam Yết) thuộc quần đảo Trường Sa.

Tháng 8-1973, với sự hợp tác của Công ty Nhật Maruben Corporation, Bộ Kế hoạch và phát triển quốc gia Sài Gòn tiến hành khảo sát phốt phát ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 6-9-1973, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, Quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.


Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26 ngày 6 tháng 9 năm 1973 của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hoà

Có ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo.

Ngày 16-6-1956, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Đồng thời cũng trong năm này, Chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 22-2-1959, Chính quyền Sài Gòn bắt giữ trong một thời gian 82 “ngư dân” Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hoa trong quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 20-4-1971, Chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 13-7-1971 Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó trong cuộc họp báo ngày 10-7-1971.

Ngày 19/1/1974, lực lượng quân sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm đóng nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa và cũng trong ngày này chính quyền Sài Gòn tuyên bố lên án Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ; ngày 14-2-1974 tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 5 và 6-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ngày 28-6-1974, tuyên bố tại khoá họp thứ nhất Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 ở Caracas rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.

Tháng 9-1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới (trước đây đã được đăng ký trong hệ thống các trạm của OMM dưới biểu số 48.860).

Trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam
(Văn kiện của tổ chức khí tượng thế giới (OMM) năm 1973



Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977; Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982; Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992; Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; Luật Biên giới quốc gia năm 2003.

Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay, huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc trong các công hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các tuyên bố của Bộ Ngoại giao, hoặc trong các Hội nghị của Tổ chức Khí tượng thế giới ở Genève, (tháng 6-1980), của Đại hội Địa chất thế giới ở Paris (tháng 7 năm 1980) v.v…

Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách trắng” (năm 1979, 1981, 1988) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngày 14-3-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại Trường Sa.

Tháng 4-2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.

Kết luận

Từ những tư liệu lịch sử rõ ràng, và căn cứ vào những nguyên tắc của luật pháp và tập quán quốc tế, có thể rút ra kết luận sau đây:

1. Từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

2. Từ thế kỷ XVII đến nay, suốt trong mấy thế kỷ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện một cách thật sự, liên tục và hoà bình chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Một số tư liệu - điều ước quốc tế 
liên quan đến chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

1. Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943, khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, hội nghị tam cường Anh - Mỹ - Trung (Cộng hòa Trung Hoa, đại diện lúc đó là Tưởng Giới Thạch) đã họp và ra một bản Tuyên bố tại Cai-rô (thủ đô Ai-Cập). Tuyên bố có đoạn viết: “ …Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa”26. Như vậy là về phần lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cai-rô khẳng định ý chí của các cường quốc buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc gồm “Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ”, không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945, những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung (Cộng hòa Trung Hoa) đã lại ra Tuyên ngôn khẳng định “Các điều khoản của Tuyên bố Cai-rô sẽ được thi hành”. Sau khi tuyên chiến với Nhật Bản ở Viễn Đông, Liên Xô cũng tham gia Tuyên ngôn này.

Theo quyết định của Hội nghị Postdam là Trung Quốc chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Từ cuối năm 1946, quân đội của Tưởng Giới Thạch đến một số đảo của quần đảo Hoàng Sa và các tỉnh phía bắc Việt Nam để thực hiện việc giải giáp quân đội Nhật Bản ở đây, hoạt động này hoàn toàn không có ý nghĩa xác định hoặc thu hồi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến 8-9-1951, có đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký Hòa ước với Nhật Bản. Điều 2, Chương II của Dự thảo Hòa ước được đưa ra để Hội nghị thảo luận có ghi Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và các đòi hỏi của mình đối với các lãnh thổ được nêu rõ trong các khoản của điều này:

26 Hội nghị Cai-rô và Teheran 1943 trang 448. Văn kiện Bộ Ngoại giao Mỹ , 1961-Washington.

a) Triều Tiên;

b) Đài Loan, Bành Hồ;

c) Kurile, phần phía Nam đảo Sakhalin;

d) Các đảo ở Thái Bình Dương;

e) Châu Nam Cực;

f) Các đảo thuộc các quần đảo Spratly (Trường Sa) và Paracel (Hoàng Sa).

- Tại phiên họp toàn thể ngày 5-9-1951, Hội nghị đã tán thành quyết định của chủ tịch không chấp thuận đề nghị bổ sung đòi “Nhật Bản công nhận chủ quyền hoàn toàn của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với Manchuria (Mãn Châu), đảo Đài Loan (Formosa) với tất cả các đảo kế cận nó, quần đảo Penlinletao (Pescadores tức Bành Hồ), quần đảo Tunshatsuntao (quần đảo Pratas), cũng như đối với 2 quần đảo Sishatuntao và Chunshatsuntao (quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo Amphitrites, bãi cát ngầm Maxfield) và quần đảo Nanshatsuntao, kể cả quần đảo Trường Sa, và Nhật từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với các vùng lãnh thổ nêu trong điểm này”.

Quyết định này của Hội nghị đã được thông qua với 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống, 1 phiếu trắng. Trong các nước bỏ phiếu thuận có: Ác-hen-ti-na, Ô- xtrây-li-a, Bỉ, Bô-li-vi-a, Bra-xin, Cam-pu-chia, Ca-na-đa, Xri-Lan-ca, Chi-lê, Cô-lôm-bi-a, Cô-xta Ri-ca, Cu-Ba, Đô-mi-ni-ca, Ê-cu-a-đo, Ai-cập, En Xan-va- do, E-ti-ô-pi, Pháp, Hy Lạp, Goa-tê-ma-la, Ha-i-ti, Hôn-đu-rát, In-đô-nê-xi-a, I- ran, I-rắc, Lào, Li-Băng, Li-bê-ri-a, Lúc-xăm-bua, Mê-hi-cô, Hà Lan, Tân Tây Lan, Ni-ca-ra-goa, Na-uy, Pa-ki-xtan, Pa-na-ma, Pa-ra-goay, Pe-ru, Phi-lip-pin, A-rập Xê-út, Xi-ri, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Bắc Ai-Len, Mỹ, Việt Nam, Nhật Bản.

Cuối cùng, Điều 2 Chương II của Hòa ước vẫn được giữ nguyên như Dự thảo và gồm 6 khoản sau đây:

“a) Nhật Bản, trong khi công nhận nền độc lập của Triều Tiên, từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Triều Tiên, kể cả các quần đảo Quelpart Port Hamilton và Dagelet.

b) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với vùng Formosa (Đài Loan) và Pescadores (Bành Hồ).

c) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Kurile, đảo Sakhalin và quần đảo nằm sát nước Nhật Bản mà ở đó Nhật Bản đã giành được chủ quyền theo Hiệp ước Portsmouth ngày 5-9-1905.

d) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi liên quan tới chế độ uỷ trị của Hội quốc liên, và chấp nhận quyết định quyết định ngày 2-4-1947 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc gia hạn chế độ uỷ trị đối với các đảo Thái Bình Dương trước đây dưới quyền uỷ trị của Nhật Bản.

e) Nhật Bản từ bỏ tất cả các đòi hỏi muốn có bất kỳ quyền, hoặc danh nghĩa, hoặc lợi ích nào liên quan tới bất cứ phần nào của vùng Nam Cực, dù đó là các hoạt động của các công dân Nhật Bản hoặc các hình thức khác.

f) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa (Paracel)”.

- Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Tuyên bố Cai-rô xác nhận và Hòa ước SanFrancisco khẳng định lại là của Trung Quốc chỉ bao gồm Đài Loan, Bành Hồ. Việc Hòa ước SanFrancisco tách riêng Đài Loan, Bành Hồ và Hoàng Sa, Trường Sa thành hai khoản riêng biệt (b, f) tự nó đã bao hàm ý nghĩa không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Cũng tại Hội nghị San Francisco, ngày 7-9-1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và “cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam”.

Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.

Những tư liệu và chứng cứ kể trên cho thấy một cách rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 (và Tuyên ngôn của Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô) đến Hòa ước San Francisco ký ngày 8-9-1951 đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đồng thời, việc không một quốc gia nào tại Hội nghị SanFrancisco năm 1951, phản đối hoặc bảo lưu về tuyên bố của Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam lúc đó về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo chứng tỏ cộng đồng quốc tế đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

07:40 | Posted in , | Read More »